TS. Phạm Ngọc Long
Kinh tế Việt Nam năm 2014 qua đi với những dấu hiệu của sự phục hồi ấn tượng và bất ngờ. GDP tăng 5,98% so năm 2013, vượt mức kế hoạch (5,8%) đề ra. Xuất khẩu đạt 150 tỷ USD, tăng 13,6% và xuất siêu đạt 2 tỷ USD, mức cao nhất kể từ khi BOP của Việt Nam đạt thặng dư vào năm 2012. Thị trường tài chính - tiền tệ đã dần đi vào ổn định, nợ xấu giảm, mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay đều hạ, tạo điều kiện khuyến khích tiêu dùng và đầu tư, thêm nhiều cơ hội cho doanh nghiệp tiếp cận tín dụng và hỗ trợ ngân hàng giảm tồn đọng vốn nhàn rỗi, giảm dư thừa thanh khoản. Đáng chú ý CPI bình quân năm 2014 tăng 4,09% so với bình quân năm 2013, mức tăng khá thấp trong vòng 10 năm qua. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 15,6 tỷ USD, tăng 24,5% so năm 2013. Thông tin tình hình kinh tế quý I/2015 cho thấy đà phục hồi càng rõ rệt (GDP/CPI tăng lần lượt 6,03%/0,74% so cùng kỳ, CPI tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây ...);
Thành quả đáng khích lệ ...
Kết quả trên có được nhờ những nỗ lực không ngừng của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ hướng trọng tâm “đột phá” cải cách thể chế (hoàn thiện khung khổ pháp lý với nhiều điểm mới, tiến bộ), cải cách TTHC (dự kiến sớm tiệm cận các tiêu chí xếp hạng ASEAN 6 vào cuối năm 2015 và ASEAN 4 vào năm 2016), tiếp tục tái cơ cấu mạnh hơn hệ thống tài chính - ngân hàng và đầu tư phát triển về cơ sở hạ tầng của nền kinh tế. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng thực thi được chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, bước đầu thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Những thành tựu này được một số tổ chức quốc tế (World Bank Group, WEF, Eurocharm, Moody...) hân hoan ghi nhận qua sự công bố các chỉ số xếp hạng chuyên nghiệp dù ở mức độ tích cực, lạc quan hay có phần còn bi quan khác nhau, đều thống nhất ở điểm chung là môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam đã và đang được cải thiện, nhiều tiến bộ và trở thành điểm thu hút nhiều hơn sự quan tâm của các nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài;
Vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức ...
Mặc dầu vậy, bên cạnh những tín hiệu tích cực thì nền kinh tế Việt Nam vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức về năng lực cạnh tranh quốc gia nói chung và sự chậm trễ đối phó với hội nhập của phần lớn các doanh nghiệp trong nước nói riêng. Tăng trưởng kinh tế đạt được dưới tiềm năng. Mặt bằng giá (CPI) ở mức thấp chủ yếu nhờ tác động giảm giá nguyên liệu, năng lượng đầu vào (như giá dầu thô, thép, bông sợi ...) và tổng cầu còn yếu (sức mua nội địa tăng chậm, xuất khẩu nông sản giảm sút) chứ không phải do chủ động kiểm soát lạm phát (vẫn liên tục điều chỉnh giá nhiều mặt hàng thiết yếu, nới lỏng cung tiền và còn chờ ghi nhận có tính độ trễ từ quý II/2015). Tăng trưởng tín dụng đạt mức thấp, xử lý nợ xấu còn chậm, dù mặt bằng lãi suất giảm mạnh. Cho thấy sức hấp thụ vốn của đại bộ phận khu vực doanh nghiệp khá yếu. Xuất khẩu tăng cao chủ yếu nhờ ở khu vực doanh nghiệp FDI và kinh tế thế giới vẫn đang trong đà phục hồi chậm chạp, chứa đựng nhiều rủi ro. Bên cạnh đó bội chi ngân sách vẫn lớn, nợ công (gồm cả nợ nước ngoài) còn cao, tỷ giá hối đoái tạm ổn định với mức dự trữ ngoại tệ còn mỏng, chưa thực vững chắc. Đặc biệt là sức ép tiến trình hội nhập phải “mở toang” cửa thị trường và nới lỏng nhiều điều kiện thuế, hải quan, hàng rào kỹ thuật không mấy “dễ chịu” cho việc cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
Trợ giúp DNNVV là vực dậy 01 “trụ cột” kinh tế ...
Trong bối cảnh môi trường đầu tư, kinh doanh có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực là căn bản và đáng lo ngại chỉ là thứ yếu, thì khu vực DNNVV vốn được coi là 01 trong những “động lực” tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế lại đáng quan ngại hơn cả. Nhiều vướng mắc giữa chính sách và khâu thực hiện lâu nay đã khiến DNNVV vốn yếu kém nội tại, một mặt không dễ “tiếp cận” và “thụ hưởng” những thay đổi mới, tiến bộ về môi trường đầu tư kinh doanh, mặt khác, càng gặp thêm nhiều khó khăn bởi áp lực nâng cao năng lực cạnh tranh tự thân trong môi trường đầu tư, kinh doanh thay đổi nhanh chóng và phức tạp. Có thể thấy bài toán tồn tại để phát triển thế nào sắp tới với nhiều lời giải không thể tự DNNVV có thể giải được dễ dàng ;
Theo GSO, Quý I/2015 có trên 16.000 doanh nghiệp phải đăng ký giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động vì kinh doanh khó khăn. Trong đó 2.055 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động kinh doanh, tăng 8,7%; 14.040 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động tăng 25% so cùng kỳ năm trước. Phần lớn trong số họ là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ có số vốn hoạt động dưới 10 tỷ đồng (chiếm 93,57%). Cho thấy hiện tượng sàng lọc, đào thải tự nhiên chỉ cho phép số DNNVV có qui mô vốn lớn trên 10 tỷ (chiếm 6,43%) mới có sức “đề kháng” tốt, có chiến lược kinh doanh bài bản, có độ bền vững, chống chọi với biến động lớn của môi trường đầu tư kinh doanh hiện nay so với các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (vốn dĩ chiếm gần 98% tổng số DNNVV của cả nước)
[1] ;
Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nếu xét từ góc độ thu hút, khuyến khích phát triển DNNVV không đơn thuần tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng, cạnh tranh thực sự bình đẳng, lành mạnh, minh bạch hóa thông tin mà còn là sự chủ động hỗ trợ, trợ giúp “khôn khéo” cho khu vực này. Có làm vậy mới giúp DNNVV khắc phục nhanh chóng các yếu kém nội tại (hiện tượng nhỏ hóa; thiên về dịch vụ, thương mại, chưa phát huy thế mạnh lĩnh vực nông nghiệp; công nghệ lạc hậu; qui mô phân tán, manh mún; năng suất, hiệu quả, giá trị gia tăng thấp; khó tham gia CN hỗ trợ và chuỗi giá trị chung ...). Đây tuyệt đối không phải là sự bảo hộ, bao cấp, ôm đồm từ phía Nhà nước mà chỉ là việc sử dụng tốt nhất các quyền năng vốn có và nguồn lực có thể theo các nguyên tắc thị trường có sự lựa chọn, định vị lại đúng đắn hơn vị thế, vai trò khu vực kinh tế tư nhân, trong đó chủ yếu là các DNNVV. Bản chất sự cạnh tranh bình đẳng trong môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam cả về trước mắt và lâu dài không phải là “cá lớn, nuốt cá bé” hay “phá sản hủy diệt” mà chỉ là nhằm giúp doanh nghiệp “ganh đua, chia sẻ và cùng thắng”. Nếu Nhà nước không chủ động nâng đỡ, trợ giúp để các DNNVV phát triển lành mạnh, đúng hướng, để thay vì quá nhiều doanh nghiệp có qui mô nhỏ, siêu nhỏ sẽ là có qui mô vừa, qui mô lớn chiếm đa số trên nền tảng phân công, hợp tác, tái cơ cấu hợp lý theo các mô hình liên kết SXKD theo “chiều ngang” nhiều hơn thì sẽ không thể có môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, bình đẳng thực sự giữa các loại hình doanh nghiệp;
Khắc phục 05 hạn chế lớn cản trở cải thiện môi trường ...
Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cho các DNNVV phải khắc phục cho được 04 hạn chế lớn là :
Một là : Năng lực nội sinh khu vực DNNVV là rất lớn nhưng vẫn còn bị nhiều trói buộc, khốn khó, nên chủ yếu vẫn ở dạng tiềm năng, vốn nhàn rỗi nằm phân tán ở nhiều kênh đầu tư chưa đúng mục đích, nên nếu để “tự lớn” thì rất lâu. Vai trò đầu tư dẫn dắt, lót đường, vốn “mồi” của Nhà nước là cần thiết. Tái cơ cấu đầu tư công gắn với khuyến khích đầu tư tư nhân theo các mô hình PPP, BT, BOT, M&A ... mới giải quyết được;
Hai là : Khung pháp lý về DNNVV chưa thực hoàn chỉnh, chủ yếu chắp vá, chạy theo số lượng, chưa tập trung đồng bộ mà nằm rải rác ở nhiều văn bản luật liên quan, khi thực hiện phải tham chiếu bất tiện, biến dạng, chồng chéo, kém hiệu lực. Tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn và tổ chức triển khai lề mề, còn có hiện tượng gây khó khăn, sách nhiễu doanh nghiệp trở thành “lực cản” vô hình rất lớn;
Ba là : Hệ thống các chương trình, cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV khá nhiều, nhưng tản mạn, chắp vá, chồng chéo, kém khả thi. Theo MPI có tới hơn 80 chính sách thuộc các bộ, ban ngành TW về trợ giúp phát triển DNNVV từ sau Nghị định 56/CP/2009. Nhưng nằm phân tán ở các bộ, ban ngành TW/ĐP khác nhau, với nguồn lực hạn hẹp (ngân sách và tài trợ quốc tế) nên khả năng đáp ứng khó khăn, hiệu quả có thể đánh giá định lượng được của không ít chính sách là nan giải;
Bốn là : Hệ thống tổ chức hỗ trợ phát triển DNNVV còn cồng kềnh, thiếu tập trung, đồng bộ, thống nhất, thiếu sự kết nối, liên thông, nặng về hô hào, hình thức, thậm chí có nơi, có lúc bị biến tướng, vai trò đại diện, bảo vệ lợi ích chính đáng cho các DNNVV bị phân tán, kém hiệu lực. Tháng 3/2015, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường năng lực đơn vị thực hiện trợ giúp DNNVV. Sẽ là hiệu quả hơn nếu chuyển giao hẳn 01 số dịch vụ công về trợ giúp cho Hiệp hội DNNVV Việt Nam và các Hiệp hội ngành nghề;
Năm là : Khung khổ pháp lý mới chỉ hướng tạo điều kiện môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi dễ dàng chung chung mà chưa chú trọng thực sự chia sẻ các lợi ích hấp dẫn và tìm cách bảo hộ lâu dài việc làm ăn đối với DNNVV. Việc thực thi tốt Luật đấu thầu, luật đấu giá tài sản gắn với hiện thực hóa vai trò DNNVV trong việc cung cấp dịch vụ, hàng hóa công, tham gia đầu tư lĩnh vực nông nghiệp, một số cơ sở hạ tầng... với tỷ suất lợi nhuận bình quân hấp dẫn và chỉ số rủi ro thấp nhất là cách tốt nhất khuyến khích họ thay vì hô hào ưu đãi suông.
Làm rõ 07 nguyên nhân, bài học về cải thiện môi trường ...
1) Nguyên nhân khách quan: Tác động bất lợi của khủng hoảng kinh tế từ bên ngoài giai đoạn 2007-2009 và 2010-2012, nên chương trình phát triển DNNVV (Quyết định 1231/CP/2012) không thực hiện được như kỳ vọng cả về số lượng và chất lượng DNNVV;
2) Nguyên nhân chủ quan: DNNVV (vốn nhỏ, kém minh bạch, yếu năng lực quản trị, công nghệ lạc hậu, chủ yếu quy mô nhỏ và siêu nhỏ, năng suất lao động thấp, năng lực cạnh tranh kém, dễ tổn thương, khó phát triển bền vững …) quy mô nhỏ dần và không thể tự lớn …;
3) Chủ trương, đường lối phát triển còn đại khái, dùng dằng, thiếu quyết liệt, hoặc lạc quan quá, chạy theo thành tích (
chương trình 1231/CP đến năm 2015 có 600.000 DNNVV, đến năm 2020 có 1.000.000 DNNVV, trong đó có 3.000 doanh nghiệp KH&CN, chú trọng công nghiệp hỗ trợ; ưu tiên phát triển DN trong lĩnh vực nông nghiệp… thực tế khó đạt !)[2];
4) Cơ chế, chính sách hỗ trợ là nhiều và hay trên lý thuyết nhưng thiếu thực tế, chồng chéo, chắp vá, bị động, không đồng bộ, thiếu tập trung trọng tâm, trọng điểm (
thờ ơ với DN siêu nhỏ, DN mới khởi nghiệp, chưa xác định đúng vai trò đầu tàu dẫn dắt của DN có quy mô vừa, lúng túng phát triển DN KH&CN, DN thuộc công nghiệp hỗ trợ, DN khu vực nông nghiệp, nông thôn, DN có trách nhiệm xã hội…)[3];
5) Nguồn tài lực và nhân lực hiện thực hóa cơ chế, chính sách là hạn chế (
xét cả về phân bổ vốn đầu tư có nguồn gốc từ ngân sách, tài trợ quốc tế, tín dụng trong nước cũng như bộ máy, con người triển khai). Đã vậy bố trí, phân bổ tài chính chưa phù hợp, thậm chí sai địa chỉ, hiệu ứng lan tỏa rất chậm. Hầu như chưa có lĩnh vực, ngành, hàng nào có DNNVV hoạt động tạo đột phá, tác động chuyển động lớn đến nền kinh tế
[4];
6) Bộ máy tổ chức triển khai yếu kém, thiếu gắn kết, thiếu phối hợp, càng làm phân tán nguồn lực chung, vai trò chủ trì, đầu mối, phối hợp không rõ ràng, thiếu bóng dáng vị thế nhạc trưởng. Hành chính hóa và cồng kềnh bộ máy công lập hỗ trợ phát triển DNNVV hạn chế rất nhiều nỗ lực hỗ trợ phát triển của Nhà nước
[5];
7) Hệ thống mạng lưới trợ giúp liên quan các tổ chức “ngoài công lập” hỗ trợ phát triển còn yếu kém, chưa được quan tâm đúng mức, chưa được phát huy hết năng lượng “xã hội hóa” (nhiều thời kỳ trông chờ quá mức vào các dịch vụ công, nguồn lực công, thường tập trung tại các cơ quan công lập…)
[6];
09 giải pháp định hướng tiếp tục cải thiện ...
1) Xét ở tầm chiến lược tăng cường năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững theo hướng hội nhập thực sự với bên ngoài, khu vực DNNVV phải được coi là động lực phát triển năng động, căn bản, lâu dài nhất của nền kinh tế;
2) Hỗ trợ phát triển DNNVV gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng; tái cơ cấu nền kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều sâu, chấp nhận sàng lọc “đớn đau” khu vực DNNVV, sắp xếp lại, tạo điều kiện khôi phục, phát triển đúng hướng, không nên chạy theo số lượng quá mức (1 hay 2 triệu DNNVV không quan trọng, cái cần là tỷ trọng đóng góp, tỷ lệ tạo giá trị gia tăng, hàm lượng chất xám trong giá thành sản phẩm, dịch vụ).
3) Phát triển có quy hoạch trọng tâm, trọng điểm “địa chỉ” cụ thể theo từng lĩnh vực, ngành hàng : thuộc loại công nghiệp hỗ trợ nào, nguồn nhân lực chất lượng nào, DN KH&CN nào, sản phẩm công nghệ cao nào, DN trẻ khởi nghiệp theo hướng nào, DN trách nhiệm XH ở đâu, DN hợp tác công - tư với ai, gìn giữ phát triển làng nghề nào, chăm lo DN siêu nhỏ nào; thúc đẩy tham gia chuỗi liên kết gì và như thế nào, khuyến khích DN nào tham gia lĩnh vực nông nghiệp theo cách nào ...
4) Kiện toàn khung khổ pháp lý theo hướng sớm tổng kết Nghị định 56/CP/2009 và “luật hóa” hệ thống các cơ chế, chính sách hiện hành trợ giúp phát triển DNNVV bằng 01 dự Luật “nhất thể hóa” có chọn lọc về hỗ trợ phát triển DNNVV dưới dạng Luật chi tiết chứ không chỉ Luật “khung”, chế định chung chung, mang tính kết nối các luật liên quan và chỉ là nguyên tắc nền tảng để dựa vào đó ban hành các chính sách cụ thể
[7].
5) Cần giải quyết đồng bộ về cơ chế, chính sách trợ giúp phát triển tập trung 5 yếu tố chủ yếu hỗ trợ phát triển DNNVV xếp theo thứ tự ưu tiên hiện nay : thị trường đầu ra; đổi mới công nghệ; nguồn lực tài chính, tín dụng; mặt bằng sản xuất kinh doanh; năng lực quản trị doanh nghiệp; trong đó tháo gỡ khó khăn tiếp cận vốn tín dụng duy trì hoạt động, đầu tư đổi mới MMTB, công nghệ, sớm cải thiện NSLĐ và ổn định “đầu ra” cho DNNVV là vấn đề then chốt.
6) Cần có sự thống nhất với hiệu lực cao về hệ thống tổ chức hỗ trợ phát triển DNNVV, thu gọn vai trò “độc tôn” của mô hình “công lập”, từng bước nới rộng vai trò mô hình “xã hội hóa” và “dân sự hóa” hoạt động này. Xác lập sớm vai trò “đầu mối, nhạc trưởng” chủ trì công tác hỗ trợ phát triển DNNVV bằng 01 thiết chế mới là
Ủy ban chuyên trách quốc gia về phát triển DNNVV (
chứ không chỉ là Hội đồng khuyến khích phát triển chủ yếu tư vấn Thủ tướng vốn không đủ tầm)
[8];
7) Cải thiện thực chất môi trường đầu tư kinh doanh cho khu vực DNNVV gắn với hệ thống cơ chế, chính sách và pháp luật mới về sự nâng đỡ, trợ giúp mang tính ưu đãi theo các nguyên tắc thị trường, minh bạch, công bằng, chặt chẽ, có hiệu quả và lộ trình rõ ràng. Khắc phục trợ giúp ưu đãi theo kiểu “ban phát, xin cho, rải đều” và “sai địa chỉ”, dễ bị lợi dụng, tham nhũng, lãng phí, tạo ra bất bình đẳng ngay giữa các DNNVV và với khu vực DN khác;
8) Ngoài tổng kết Nghị định 56/CP/2009, cần sớm tổng kết cả Nghị định 45/CP/2010 về công tác hội đoàn thể để xác định đúng vị trí, vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác hẳn với tổ chức đoàn thể thông thường để có cơ chế, chính sách tăng cường năng lực hỗ trợ phát triển DNNVV theo hướng chuyên nghiệp, công ích và sự nghiệp có thu để vừa giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách, vừa tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực sự đóng góp cho phát triển kinh tế;
9) Cần sớm tổ chức thẩm định, đánh giá lại tính khả thi của mô hình “lưỡng tính” vừa quản lý về mặt chính sách, vừa quyết định phân bổ tài chính thông qua các quỹ hỗ trợ phát triển DNNVV, DN KH&CN, DN liên quan công nghiệp hỗ trợ đặt tại MPI, MOST, MOIT (Quyết định 601/CP/2013, Nghị định 80/CP/2007, Quyết định 592/Bộ KHCN và dự thảo Nghị định phát triển CNHT sắp trình Thủ tướng ký); đồng thời xem lại sự bất hợp lý của mô hình bảo lãnh tín dụng theo Nghị định 58/CP/2013
[9]…/.
[1] Nguồn : GSO, CIEM, VCCI và SISME;
[2] Nguồn : theo Báo cáo tháng 4/2015 của SISME gửi Ủy ban KT Quốc hội và Bộ Tư pháp về sự cần thiết xây dựng Luật hỗ trợ phát triển DNNVV;
[3] Nguồn : Báo cáo của SISME tháng 4/2014 trình bày trước Thủ tướng Chính phủ tại buổi gặp hơn 500 DNNVV Việt Nam;
[4] Nguồn : Đề án nghiên cứu của SISME theo đặt hàng của Ủy ban dân tộc Chính phủ năm 2013;
[7] Nguồn : theo Báo cáo tháng 4/2015 của SISME gửi Ủy ban KT Quốc hội và Bộ Tư pháp về sự cần thiết và định hướng xây dựng Luật hỗ trợ phát triển DNNVV theo kinh nghiệm 01 số nước;
[8] Nguồn : Đề tài nghiên cứu kinh nghiệm 08 nước về hệ thống tổ chức hỗ trợ phát triển DNNVV của SISME năm 2014;
[9] Nguồn : Báo cáo của SISME kiến nghị Thủ tướng Chính phủ nhân cuộc gặp 500 DNNVV ngày 20/04/2014;
Bình luận của bạn